CÁC GIAI THOẠI VỀ
CÁC NHÂN VẬT
NAM Kỳ LỤC TỈNH
Hứa Hoành
Lời Mở Đầu
Những
chuyện kể ra trong sách nầy đều là chuyện
thật không phải tiểu thuyết Các chuyện ấy
xảy ra trên đất Nam kỳ trên dưới 100 năm
nay, nhưng không có tài liệu chính thức nào ghi chép.
Với ư định viết bộ sách về Nam Kỳ
Lục Tỉnh, cho nên hơn mười năm qua, kể
từ ngày c̣n trong trại tị nan tại Mă Lai, chúng tôi
bắt đầu sưu tầm tài liệu. Các tư
liệu ấy rải rác trong sách báo xưa, hoặc nằm
trong kư ức của những vị cố cựu
đất Nam Kỳ mà chúng tôi có dịp gặp gỡ. Lúc
khởi sự viết, chúng tôi có ư định chia bộ
sách làm 10 quyển, đều lấy tên "Nam Kỳ
Lục Tỉnh". Sách ra đến tập 5, theo lời
nhà xuất bản và một vài nhà sách khuyến cáo, kể
từ tập 6 trở đi, mỗi quyển nên lấy
một tựa đề khác, nhưng nội dung vẫn là
những chuyện mới vừa khám phá, sưu tầm
được. Nếu tiếp tục dùng tên cũ, bộ
sách quá dài, độc giả sẽ ngán tiền, khó dám mua trọn
bộ, mặc dù mỗi quyển đều độc
lập với nhau, không có liên quan như một bộ
trường thiên tiểu thuyết.
Đam
mê môn lịch sử từ hồi nhỏ, lớn lên tôi theo
học môn sử địa, và sau cùng trở thành thầy
giáo dạy môn này nhiều năm, đủ các lớp khác
nhau, nên tôi rất ham thích môn lịch sử. Với thời
gian và tuổi đời chồng chất, chúng tôi tích
tụ được nhiều hiểu biết về
lịch sử miền Nam, một lănh vực từ
trước tới nay bị lăng quên, nên cố thu thập
ghi chép để dành. Mặc dầu quyển sách nói
nhiều đến các biến cố lịch sử các
nhơn vật lịch sử, nhưng đây vẫn không
phải là một quyển sử mà chỉ có giá trị
như "giai thoại". Tôi có ư định viết các
giai thoại về Nam Kỳ tương tự như
cụ Lăng Nhân Phùng Tất Đắc viết về
"Giai Thoại Làng Nho" mà thôi, nhưng chú trọng
đến địa lư, các di tích, văn hoá, lịch
sử cùng cảnh đẹp thiên nhiên của miền Nam.
Tài
liệu sử dụng, phần lớn là truyền
khẩu, mới mẻ, mức độ chính xác rất
hạn chế. Mỗi người kể lại chỉ
biết một giai đoạn, một biến cố mà
thôi. Các sự kiện ấy chưa bao giờ
được kiểm chứng, đánh giá lại, nên chúng
tôi không bao giờ dám coi đây là tài liệu lịch sử
chính thức. Nó cũng như môn ngoại sử, chắc
chắn có nhiều thiếu sót, sai lầm, không trung
thực, nhưng nội dung vẫn giữ được
cốt lơi của vấn đề.
Trân
trọng xin quư độc giả vui ḷng lượng
thứ cho những điều sơ sót vừa kể trên.
Tác giả cũng trân trọng kính gởi đến quư
vị có phương danh trong tác phẩm lời biết
ơn chơn thành.
Tác
giả kính cáo.
Hứa Hoành
Phần 1 : CÁC GIAI
THOẠI VỀ
TỔNG ĐỐC
LỘC, TỔNG ĐỐC PHƯƠNG,
PHỦ CA, LĂNH BINH
TẤN
Năm
1984 tôi đến trại tỵ nạn Mă Lai. T́nh cờ tôi
có quen với cụ Nguyễn văn Vực, nguyên Chánh
Sự Vụ Sở Thông Tin Đô Thành Sài G̣n dưới
thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Lúc đó
cụ Vực ngoài 60 tuổi, vượt biên có một ḿnh,
sống cuộc đời hiu quạnh của người
già, gợi trí ṭ ṃ của tôi, nên tôi bắt đầu làm
quen, bắt chuyện với cụ. Mối giao t́nh lần
lần đậm đà. Khi chuyển qua trại ở
Philippines, cụ bị bịnh "hở valve tim",
phải ra điều trị tại bịnh viện Manila.
Lại cũng t́nh cờ nữa, tôi được cử
theo giúp đỡ trong khi cụ bịnh hoạn.
Từ
đó, chúng tôi một già một trẻ ăn chung, ngủ
gần nhau. Hằng ngày cụ thường kể
chuyện xưa tích cũ cho qua ngày đoạn tháng.
Thấy cụ minh mẫn và cường kỳ, tôi xin phép
ghi chép các chi tiết cụ kể ra. Có lẽ tự
biết ḿnh mắc một chứng bịnh khó trị, xung
quanh không có thân nhân, lại tuổi cao, nên cụ sẵn sàng
cho phép tôi sử dụng các chi tiết mà cụ đă
kể với tôi trong thời gian chung sống nhàn rỗi
ở Manila. Thỉnh thoảng tôi có dịp hầu
chuyện với nhiều vị lớn tuổi ở
miền Nam, tôi không quên kín đáo học hỏi thêm. Do đó,
tôi có một số tư liệu tương đối ít
người biết, hoặc không có sách vở đề
cập tới.
Trong
một ngày rảnh rỗi, tôi lang thang ngoài phố. T́nh
cờ thấy trên vỉa hè trước tiệm bày bán sách
báo cũ giá 10c một quyển. Tôi lựa một hồi
t́m gặp một quyển sách bụi bặm nhăn nheo nói
về thời kỳ Pháp mới chiếm Nam Kỳ với
nhiều chi tiết mới lạ với tựa đề
"The French present in Cochinchina and Cambodia 1859-1909"
của Milton Osborn. Trong sách có nhiều bức ảnh minh
hoạ chân dung các nhơn vật tiếng tăm lừng
lẫy ở Nam Kỳ mà từ trước đến
giờ chúng tôi chỉ nghe nhắc tới, chớ chưa
thấy được h́nh ảnh.
Quan
niệm rằng xă hội nào cũng có người tốt
kẻ xấu, chớ không thể thuần nhứt
được, cho nên nhắc lại những kẻ đă
nổi danh một thời trong lịch sử cận
đại với mọi khía cạnh tốt xấu
của nó, đều góp phần làm sống lại một
thời kỳ đen tối của lịch sử. Các câu
chuyện ấy gần như những giai thoại,
một loại ngoại sử thiếu chính xác, nhưng
không có cách ǵ khác hơn để kiểm chứng. Chúng tôi
sưu tầm và viết lại người bài kư sự này
như một loại kể chuyện đời xưa,
c̣n việc khen chê để dành cho sử gia và các bậc
thức giả. Với suy nghĩ như thế, tôi
mạnh dạn viết loạt bài nầy cống hiến
độc giả. Đây là tâm huyết của một
người lưu vong c̣n nặng t́nh với quê
hương. Mong rằng với ḷng rộng lượng
sẵn có, qúy độc giả sẽ sẵn ḷng tha
thứ cho những điều sai lầm, thiếu sót.
Pháp
đem quân gây hấn ở Bắc và Trung Kỳ, nhưng thật
sự đặt chưn lên được phần
đất Việt Nam trước tiên là ở Nam Kỳ.
Điều đó có nhiều lư do:
Thứ
nhứt, Nam Kỳ ở xa kinh đô Huế, chắc sự
pḥng bị lỏng lẻo. Thứ nh́, đối với
Pháp, Nam Kỳ là vị trí chiếm lược. Chiếm
lược Nam Kỳ là khai thông sông Cửu Long để chiếm
Miên, Lào và dọn đường đến Hoa Nam. Đó là
mục tiêu của Pháp để chạy đua với công
ty Đông Ấn Anh đang chiếm Ấn Độ, bành trướng
qua Miến Điện, tràn xuống Mă Lai. Sự thành công
của Pháp ở Nam Kỳ dễ dàng một phần do
nhơn tâm ly tán. Nam Kỳ là đất mới, Nho học
chưa đủ thời gian để bắt rễ. Khoa
cử chỉ mới tổ chức hoàn bị vài khoá
tại trường thi Hương Gia Định th́
người Pháp đến. Số ông Nghè, ông Cử
đại diện cho Nho giáo ở miền Nam rất
hiếm, chỉ đếm được trên đầu
ngón tay.
So
với miền Trung và Bắc, dân trí miền Nam thấp, và
họ cũng ít hưởng được ơn vua
lộc nước như dân ở miền ngoài. Có
đọc truyện "Giai Thoại Làng Nho" của
cụ Lăng Nhân Phùng Tất Đắc mới thấy trong
khoảng gần 100 giai thoại mà cụ sưu tập,
chỉ có 4 hay 5 người miền Nam, c̣n bao nhiêu là
những ông Cống, ông Nghè ở miền Trung và Bắc. Các
đại thần ra giúp Nguyễn Ánh trung hưng cũng
đều phát xuất từ Thanh Hoá trở vào. Chính
những người đó vào Nam với khí tiết của
kẻ sĩ, học vấn uyên bác của người
đất kinh kỳ văn vật để pha trộn
với ḷng thẳng thắn bộc trực của
người Nam.
Pháp
chiếm được miền Nam rồi, Nho học suy
tàn mau chóng. Sĩ khí của người miền Nam phần
lớn không phát xuất từ những tay khoa bảng, hay
giữ những chức vụ cao trong triều đ́nh. Các
lănh tụ chống Pháp như Nguyễn văn Lịch
(Nguyễn Trung Trực), Thiên Hộ Dương, Lê Công Thành,
Đoàn Công Bửu, Nguyễn Xuân Phụng, Đỗ
Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự ...đều là
những người ít học. Dân Nam Kỳ rất phân hoá
v́ nhiều nguyên nhân kể trên. Hơn nữa, Nam Kỳ có
nhiều họ đạo, mọc gốc rễ từ lâu
đời ở những nơi khuất lấp, bất
tiện về giao thông như cù lao Giêng, Bồ Ót (Long Xuyên),
Cái Mơn, Cà Nhum (Vĩnh Long) là những chỗ dựa tin
cẩn của người Pháp khi mới chiếm được
miền Nam. Thi hành chính sách cấm đạo của
triều đ́nh, các quan lại địa phương
bắt bớ, tra tấn, giam cầm và lưu đày các giáo
dân, vô t́nh gây chia rẽ lương, giáo. Trường
hợp ra cộng tác với người Pháp của
Trần Bá Lộc, Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ),
Trần Tử Ca là những thí dụ điễn h́nh.
Năm
1862, khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đă
được nhượng cho Pháp rồi, gây ra biết
bao cảnh tượng thương tâm: nhiều nghĩa
quân bị sát hại, gia đ́nh tan nát. Có những gia
đ́nh bỏ cả nhà cửa ruộng vườn,
bồng bế nhau qua ba tỉnh c̣n lại tá túc. Trong khi
đó, một số người có đạo Thiên Chúa,
sẵn mối ác cảm với triều đ́nh, âm thầm
ở lại, hoặc mạnh dạn ra hợp tác. Có
lẽ bài "thơ Nam kỳ" của tác giả vô danh
là áng văn cổ nhứt miền Nam, viết bằng
chữ quốc ngữ, nội dung rơ ràng cổ vơ cho sự
hợp tác với Pháp v́ sự bạc đăi của
triều đ́nh. Nội dung không có nói tới lư do tôn giáo,
nhưng chúng ta có thể hiểu ngầm rằng chính lư do
ấy đă làm cho một số giáo dân ở miền Nam
ngả theo Pháp. Pháp t́m ra được bài thơ này,
nhờ Michel Đức Chaigneau, con ông Chaigneau, một
phụ tá đắc lực cho vua Gia Long, dịch ra
tiếng Pháp. Nội dung bài thơ tố cáo chính các quan
lại địa phương làm cho mất nước v́
chủ trương hẹp ḥi, chia rẽ và khinh mạn
họ. Trong "thơ Nam Kỳ" có những câu:
"...Các quan lại là những nhà hiền triết,
những bậc anh hùng tài đức,
"Họ
coi chúng ta (dân) như cỏ cây, như rác rến,
"Họ
hay dùng roi vọt đánh đập chúng ta, hơn là kháng
chiến chống Pháp.
"Chúng
ta như sống trong cảnh cá chậu chim lồng...nên
chúng ta (phải như chim khôn) tránh lưới, tránh ḍ.
"Hăy
để chúng tôi bày tỏ ḷng tôn kính đối với
cường quốc Pháp, v́ 'tứ hải giai huynh
đệ' ..."
Bài
"Thơ Nam kỳ" tiếp theo do nhà in Tân Định
tái bản lần thứ nhất năm 1903. Bài thơ
đầu được dịch từ văn vần
chữ quốc ngữ ra chữ Pháp, rồi tác giả khác
dịch ra Anh văn. Chúng tôi căn cứ vào bản
dịch tiếng Anh để quảng diễn lại
nội dung. Tam sao thất bổn nhưng chắc chắn
có những nét chính c̣n giữ lại, để chúng ta có
một ư niệm rơ ràng: v́ bạc đăi, chia rẽ, nghi
kỵ giữa lương giáo của triều đ́nh Huế,
vô t́nh làm mất đi một hậu thuẩn lớn
của dân chúng. Thấy rơ đó là cơ hội tốt, Pháp
liền nắm lấy. Họ dùng người Việt cai
trị người Việt ngay từ buổi đầu .
Pháp mở rộng ṿng tay đón những người
bất măn ra hợp tác, đặt họ vào địa
vị có tiền bạc để họ tận tâm
phục vụ.
Để
có thêm lư do vững chắc tin rằng người Công giáo
đóng một vai tṛ quan trọng trong cuộc xâm lăng
của người Pháp vào Nam Kỳ, chúng tôi xin dẫn
chứng một khía cạnh khác. Khi đồn Chí Hoà
thất thủ, triều đ́nh Huế liền cử hai
ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào thương
thuyết với Pháp tại Sài G̣n Phái đoàn Pháp ngoài
đại diện chính thức là người Pháp , c̣n có
mấy người Việt sau đây: John Liễu, Trần
Tử Ca và một người nữa không rơ tên họ, có
đạo Thiên Chúa. Vừa thấy mấy người
bản xứ đứng trong hàng ngũ kẻ thù, cụ
Phan Thanh Giản giận lắm. Phía họ, khi thấy
cụ Phan đại diện cho triều đ́nh vừa
bước vào pḥng họp th́ đứng dậy và chắp
tay xá theo lối chào kính nhà vua bằng lễ nghi truyền
thống. Cơn giận của cụ Phan tạm nguôi ngoai
khi người Pháp giải thích rằng những
người Việt này theo Thiên Chúa giáo (có nghĩa là họ
trung lập).
Người
Công giáo ngả theo Pháp từng giai đoạn. Buổi
đầu họ đứng trung lập trong cuộc tranh
chấp. Rồi các hội truyền giáo khuyến khích,
giải thích với họ rằng người Pháp sẽ
có mặt lâu dài ở đây để bảo vệ
họ, quyền lợi của họ và con cái họ khi có
sự trả thù của quan lại triều đ́nh. Từ
đó, lớp người ra cộng tác với Pháp càng ngày
càng đông. Những khuôn mặt bản xứ mới
xuất hiện hồi cuối thế kỷ 19 trên chính
trường miền Nam hầu hết là Công giáo.
Ngoài ra
c̣n có một hạng người khác cũng sớm ra
đầu thú để xin hợp tác v́ họ là những
thành phần điền chủ giàu có. Gia đ́nh họ
trước đây nhờ các chức vụ như bá
hộ, hộ trưởng, đội trưởng các
đồn điền mà làm giàu mau chóng. Có thế lực
dễ kiếm ra tiền. Có vốn cho vay sanh lời mau
chóng. Có tiền họ mua thêm ruộng đất, hoặc
siết ruộng đất của những người cầm
cố không trả nổi. Họ cảm thấy cần
được cái dù che chở của Pháp để
bảo vệ quyền lợi cho gia đ́nh và ḍng họ.
Nhớ lại những năm loạn lạc dưới
thời Lê Văn Khôi chiếm cứ thành Phiên An, cũng
như nhiều lần quân Xiêm cướp phá, vơ vét
sạch tài sản của họ mà không ai can thiệp. Cho
nên lần này họ rút kinh nghiệm và t́m một con
đường mới để tiến thân và bảo
vệ tài sản. Họ tự biết vốn không học
nhiều chữ Hán, chỉ biết chữ Nôm và quốc
ngữ, chắc chắn không được triều
đ́nh trọng dụng . V́ lẽ đó, họ đổi
hướng, mạnh dạn ra hợp tác với tân
triều cho hợp với thời thế. Hơn nữa
luật pháp của triều đ́nh quá phong kiến và
khắt khe. Hằng năm triều đ́nh ra lịnh hành
quyết từ 200 đến 300 người riêng tại
Nam Kỳ.. Nhưng khi người Pháp đă làm chủ
ở đây, họ áp dụng luật nước Pháp
tiến bộ hơn. T́nh trạng xử tử các tội
nhơn cũng giảm gần hết, chỉ trừ
những trường hợp trực tiếp giết
họ, bị họ bắt. Có lẽ đó cũng là
dụng ư của thực dân trong giai đoạn đầu
để mua chuộc người bản xứ.
Trong
phạm vi bài này, chúng tôi đề cập đến các
nhơn vật tiêu biểu là Trần Bá Lộc và con là
Trần Bá Thọ, Trần Tử Ca, và Đỗ Hữu
Phương.
Tôi tin
chắc rằng quư độc giả từng đọc
qua những quyển danh nhơn tự điển
nước nhà xuất bản từ trước tới
nay, không dễ ǵ t́m ra tiểu sử các ông ấy. Lư do
rất giản dị là v́ quan niệm "văn dĩ
tải đạo" (văn chương chở
đạo lư) của người xưa. Các người
trước tác sách vở ngày trước chỉ nhắc
đến những gương danh nhơn, anh hùng liệt
nữ mà thôi. Dụng ư của họ để răn
dạy thế hệ mai sau. Đối với những
nhơn vật kể trên, sĩ phu nước ta cho là
những kẻ có tội với đất nước và
dân tộc, nên không ghi chép lại những tấm
gương xấu đó. Ngày nay, chúng ta quan niệm khác.
Chúng ta muốn t́m hiểu sự thật và thành tâm,
thiện chí làm công việc đó. Chúng ta muốn nh́n
thấy những sự việc y như chúng đă xảy ra,
dầu tốt hay xấu. Trong khi viết về những
nhơn vật kể trên, chúng tôi lược bỏ
những chi tiết mà các sách sử thường nhắc
tới để tránh sự nhàm chán cho người
đọc.
TỔNG ĐỐC TRẦN BÁ LỘC
(1838-1900)
Các
bạn có biết trong tỉnh Mỹ Tho có hai ngôi mộ chôn
đứng là của ai không ? Xin thưa rằng ngôi mộ
thứ nhất của một người con bất
hiếu bị "trời trồng" chôn trong xă Khánh
Hậu, sau này thuộc tỉnh Long An. Ngôi mộ thứ hai
là của Trần Bá Lộc, đi tàu gần tới Mỹ
Tho thấy ngôi mộ sừng sững ở đầu ngă
ba sông.
Trần
Bá Lộc là một trong những người oán hận
triều đ́nh Huế chỉ v́ gia đ́nh ông có
đạo, đă bị ngược đăi. Thân phụ
Lộc là Trần Bá Phước, người Quảng B́nh,
đổ Tú Tài vào Nam lập nghiệp với tư cách
một thầy đồ. Ban đầu cụ
Phước dạy học tại Cái Nhum Rau Má (Vĩnh Long)
sau đó đổi lên cù lao Giêng (Châu Đốc). Đây là
các xứ đạo lâu đời nhờ vào vị trí
khuất lấp với bên ngoài, nên các giáo sĩ vẫn lén
lút truyền đạo. Trần Bá Lộc chào đời
tại đây năm 1838, cuối đời vua Minh
Mạng. Lớn lên nhằm lúc triều đ́nh cho thi hành
một chánh sách cấm đạo khắt khe v́ sự khiêu
khích của người Pháp. Nhiều cố đạo
bị bắt giam, có vị bị hành quyết như Thánh
Minh bị giết năm 1854 tại bến đ̣ Đ́nh
Khao (Vĩnh Long). Nhiều tín đồ bị đánh
đập tàn nhẫn buộc phải bỏ đạo. Có
kẻ bị lưu đày. Thân phụ Lộc, cụ
Trần Bá Phước bị bắt giam tại Châu
Đốc một thời gian rồi đày đi B́nh
Định. Năm đó Lộc 16 tuổi. Bao nhiêu thù
hận Lộc đổ trút lên đầu quan lại
địa phương và triều đ́nh Huế. Càng
thương cha bao nhiêu, Lộc càng căm thù bấy nhiêu.
Theo
nhận xét của người Pháp lúc c̣n học ở
trường nhà ḍng, người Pháp nh́n nhận rằng
Lộc tỏ ra thông minh, có chí khí, học hành tiến
bộ. Trong thời gian cha bị phát lưu tại B́nh Định,
giáo hội tiếp tục nuôi nấng và dạy dỗ
Lộc. Mối cảm t́nh với thực dân phát sinh từ
đó. Sau khi cưới vợ, một người có
đạo Công giáo, được hơn một năm
Lộc bị quan lại địa phương bắt
bớ, đánh đập rồi giam luôn. Nhưng sau đó
Lộc trốn thoát được. Lúc đó Pháp cũng
vừa làm chủ t́nh thế ba tỉnh miền Đông Nam
Kỳ, cần mua chuộc người bản xứ ra hợp
tác. Khai thác hận thù trong tâm của Lộc, giáo hội
khuyên Lộc nên gia nhập hàng ngũ Pháp để tránh
bị trả thù. Lộc âm thầm đem gia đ́nh lên
Mỹ Tho, rồi nhờ một ông cố đạo
gọi là cha Marc che chở để sống trong lănh
thổ của Pháp.
Cũng
do sự tiến dẫn và giới thiệu của Marc,
Lộc xin vào làm lính mă tà. Lộc lập nhiều thành tích
nhờ dọ thám, điềm chỉ cho Pháp bắt các thân
hào nhân sĩ ủng hộ nghĩa quân, nên Lộc
được thăng Cai, rồi lên Đội rất
nhanh. Năm sau, Lộc đă lập nghiệp vững
chắc ở đây rồi, Pháp cấp cho Lộc một
căn nhà lá, vợ th́ nuôi heo kiếm thêm tiền. Từ
đó, tiền bạc và địa vị của Lộc
thăng tiến nhanh như diều gặp gió. Vốn có ác
cảm với quan quân của triều đ́nh, Lộc
đàn áp các nghĩa quân không nới tay. Nhờ biểu
lộ ḷng trung thành với thực dân qua các vụ đánh
dẹp, chém giết, lại biết chữ quốc
ngữ, chữ Hán, cho nên mới 26 tuổi, Lộc
được bổ làm tri huyện, tức chủ
quận Cái Bè năm 1865. Lộc là người Việt Nam
đầu tiên được Pháp bổ làm chủ quận
Nam Kỳ. Hai năm sau, Lộc được thăng
Đốc Phủ Sứ. Lúc nầy Lộc vừa đóng
vai tṛ vơ quan để b́nh định các cuộc khởi
nghĩa cho Pháp, vừa giữ vai tṛ cố vấn cho Pháp
về vấn đề an ninh lănh thổ, hành chánh và chánh
sách cai trị nữa.
Kinh
nghiệm cho biết rằng hễ kẻ có tài hay tự
phụ. Lộc không thoát khỏi thông lệ đó. Khi đă
thăng phủ, vẫn c̣n ngồi ở quận Cái Bè,
Lộc lấn quyền cả người Pháp. Lộc coi
như ḿnh có quyền hành trên những người Pháp
đang phục vụ tại đây. Ông ta viết
đơn gởi cho Giám Đốc Nội Vụ
đề nghị thăng cấp cho người Pháp trong
quận, và coi đó như nhiệm vụ của ḿnh.
Ngồi quận Cái Bè trong 30 năm, công lao hăn mă đă
nhiều, mà vẫn không c̣n tiến thân được
nữa, điều đó chứng tỏ người Pháp
không thích ông và dùng người có giai đoạn. Những
cuộc đánh dẹp trong Đồng Tháp Mười,
Vũng Liêm, Cầu Ngang, Rạch Giá, Phú Quốc...có thể
nói bất cứ cuộc khởi nghĩa nào ở Nam
Kỳ cũng có Lộc dẫn quân đi đàn áp dă man.
Có
một lần Lộc họp cùng Phủ Đức,
ruồng bắt cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa
Huân ở vùng G̣ Công lên đến Chợ Gạo, khiến
cho cọp, chồn, nai chạy tán loạn vào các thôn xóm. Khi
ngồi chủ quận Cái Bè, mỗi lần báo cáo
điều ǵ lên Thống Đốc Nam Kỳ, Lộc luôn
luôn dùng chữ "Phụng lệnh quan lớn Nguyên
Soái", nịnh bợ cấp trên hết ḷng. Theo Lộc,
nhà cầm quyền cần dạy dân chúng về luân lư,
đạo đức của Pháp. Lộc nói người
Công Giáo luôn luôn trung thành với Pháp, chỉ có các phần
tử theo Nho giáo mới làm loạn.
Ông
Durrwell nhận xét về Trần Bá Lộc như
sau:"Lộc đàn áp dă man các cuộc khởi nghĩa, và
thẳng tay dùng bạo lực để dẹp các cuộc
bạo động. Dưới con mắt của
người Pháp, Lộc là một trong những viên chức
Việt Nam ra hợp tác đáng tín nhiệm nhứt, và là
một thí dụ điển h́nh để những
người Việt khác noi gương!"
Lộc
chém giết các nghĩa quân dă man hơn cả người
Pháp rất nhiều, nên dân chúng oán hận mà không làm ǵ
được. Có một lần Lộc đi dự
lễ khánh thành một nhà việc làng ở Mỹ Tho,
bị ám sát, nhưng thoát chết. Để dẹp tan các
cuộc khởi nghĩa và dụ hàng, Lộc bắt cha
mẹ, vợ con các lănh tụ phải chỉ chỗ
họ ẩn núp, kêu họ ra đầu thú, nếu không
đạt mục đích, Lộc sẵn sàng hạ sát
họ. Đối với Lộc, phương tiện nào
cũng tốt miễn đạt tới mục tiêu th́
thôi.
Nh́n
về nông thôn, theo báo cáo của Lộc với Thống
Đốc Nam Kỳ, th́ đó là một bức tranh ảm
đạm:"Các viên chức làng xă thường thụt
két, biển thủ tiền bạc để ăn xài riêng,
hút á phiện và lạm dụng quyền hành. Mỗi khi
bắt dân chúng làm sưu th́ họ hàng với những
người ấy được miễn, không ai dám kêu ca.
Tiền bạc thâu góp trong các dịp lễ lạc, họ
bỏ túi xài riêng". Lộc nói thêm:"Các món tiền
trợ cấp cho dân quê đều vô túi mấy ông làng (Nên
nhớ đây là tiền trợ cấp tử tuất cho
gia đ́nh những người lính đă theo Pháp bị
tử trận). Khi trả lương cho họ, phải
làm sổ sách hẳn ḥi. Mỗi lần có lễ lạc
như cúng đ́nh là đóng góp tự nguyện, không bắt
buộc. Sau cùng , làm sưu phải đồng
đều". Với báo cáo đó, Lộc tỏ ra
nắm vững t́nh h́nh ở thôn quê và am hiểu luật
lệ hành chánh, v́ lẽ đó nên Pháp rất tin cậy.
Năm
1886, Lộc được Pháp điều động ra
B́nh Định để đánh dẹp cuộc khởi
nghĩa của Mai Xuân Thưởng. Xong việc, Lộc
được thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh
và thăng hàm Tổng Đốc Thuận Khánh, nên dân chúng
gọi ông là Tổng Đốc Lộc. Sau đó, Lộc
về quê tại Cái Bè và Mỹ Tho. Lộc rất tự
phụ, chê cả người Pháp là bất lực, kém
hiểu biết t́nh h́nh địa phương. Cũng
chính v́ thế người Pháp không ưa ông ta, nhưng
phải nh́n nhận rằng:"Lộc là người dùng
phương tiện cẩu thả, nhưng đạt
mục đích chắc chắn". Tham Biện Mỹ Tho
phê b́nh Lộc như sau:"người ta có thể phàn nàn
lăo già nầy về hành động dă man lúc trước
nhưng tôi nghĩ trong hàng ngũ viên chức bản xứ
hiện nay, khó t́m được người biết kính
bề trên và tận tụy với quyền lợi của
nước Pháp như hắn". (Hồ sơ Trần Bá
Lộc của Durrwell, năm 1931)
Toàn
quyền Paul Doumer vào Nam nhiều lần. Lần nào ông ta
cũng có xuống nhà thăm Lộc. Theo P.Doumer vào những
năm cuối đời của ông ta, Lộc là một
trong những người giàu nhứt ở Nam Kỳ.
Trước khi chết, Lộc c̣n hơn hai ngàn mẫu
ruộng và làm chủ cả cù lao Qưới Thiện.
Để tưởng thưởng công lao hăn mă của
Lộc, năm 1899, P.Doumer cho Lộc làm thành viên của phái
đoàn, tháp tùng với P.Doumer viếng thăm Bangkok. Ân
huệ đó làm cho Lộc rất hănh diện. Ngoài ra
P.Doumer c̣n cất nhắc Lộc trước khi chết
được vào Hội Đồng Tối Cao Đông
Dương, có nhiệm vụ lo về an ninh lănh thổ.
Lộc
mất năm 1900 trong sự lănh đạm của Pháp
lẫn Việt. Trước khi chết, Lộc dặn con
phải chôn đứng. Đám ma của Lộc quàn
đủ 100 ngày để khách khứa xa gần viếng
thăm. Mỗi ngày đều có làm heo , ḅ đăi khách
khứa rần rần. Lễ động quan có binh lính
bắt súng chào và đưa tới huyệt. Lộc
chết không ai tưởng nhớ, nhưng người
Pháp cho lấy tên Lộc để đặt tên cho một
con kinh từ Bà Bèo tới Rạch Ruộng do chính Lộc
chỉ huy dân phu đào. Công việc đào kinh rất
nặng nhọc, giữa đồng nhiều muỗi,
vắt, đĩa và thiếu nước uống, khiến
cho nhiều người chết v́ bệnh sốt rét và
dịch tả. Kinh Tổng Đốc Lộc đă góp
phần làm cho vùng hai bên bờ kinh được phong phú.
TRẦN BÁ THỌ
Phải
chăng cây độc không trái, hay ít trái, nên Trần Bá
Lộc chỉ có một người con duy nhứt là
Trần Bá Thọ. Theo cuốn "Sự có mặt
của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam Bốt"
th́ từ năm 1886 trở đi Nam Kỳ đă bắt
đầu gởi người du học qua Pháp. Bốn
năm sau số du học sinh lên đến 90 người
. Thọ là một trong những người du học
đầu tiên đó, cùng với Huỳnh Công Miêng con Lănh
Binh Huỳnh Công Tấn (1). Thọ và người chú
ruột là Trần Bá Hữu theo học trường Laseyne
ở Pháp. Những người đi Pháp học trong
buổi đầu không phải để lấy bằng
cấp, mà chỉ học chữ Pháp đủ sức làm
thông ngôn, giao dịch với Pháp mà thôi.
Sau khi
ở Pháp về, Trần Bá Thọ vừa làm Hội
Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, vừa lo quản lư
ruộng đất khổng lồ của cha để
lại. Cũng giống như cha, khi ra làm việc với
Pháp, Thọ vẫn nóng tánh, hay có những ư kiến trái
ngược với quyền lợi của Pháp. Trần Bá
Thọ có một người con gái gả cho con trai út
của cụ Trương Vĩnh Kư là Trương Vĩnh
Tống. Trong thời gian làm hội đồng, Trần Bá
Thọ có nhiều hoạt động đáng lưu ư.
Trước
hết, trong các phiên họp hội đồng, Thọ
đưa ra nhận xét:"Vai tṛ cai tổng trong mỗi
quận rất quan trọng, nhờ họ làm trung gian
truyền lệnh từ quận xuống xă, và đốc
xuất việc thâu thuế. Cai tổng do các làng bầu ra,
nhưng phải được nhà cầm quyền cấp
tỉnh hợp thức hóa. Mỗi cai tổng có phó tổng
phụ tá. Thọ nói t́m và bổ nhiệm một cai
tổng có khả năng không phải dễ, và Thọ
cũng phàn nàn lương cai tổng quá thấp, nên khó kiếm
người có khả năng, mà c̣n làm cho họ tham
nhũng, hối lộ. C̣n các ông làng, mỗi lần đi
công tác lên tỉnh, lên quận mất nhiều ngày mà không có
công tác phí, khiến họ phải ăn hối lộ".
Trong
một phiên họp hội đồng, Thọ nêu ư kiến
báo chí sẽ tường thuật các phiên họp ấy cho
dân chúng biết. Viên Thống Đốc Nam Kỳ chủ
tọa trả lời rằng:
"Me-sừ
Thọ rất thông minh, nhưng không hiểu biết
nội bộ. Nếu cho dân chúng biết mọi cuộc
thảo luận của Hội Đồng Quản Hạt,
chúng ta sẽ khó đạt mục đích. Cần phải
giấu họ."
Đă
từng nghe dân chúng phàn nàn về việc làm của cha
trước đây nên vào năm 1908, Trần Bá Thọ cho
xuất bản quyển:"Nhị Thập Tứ
Hiếu" bằng Pháp văn và Quốc ngữ để
giáo dục dân chúng về luân lư, đạo đức
của Nho giáo. Trong lời tựa sách, Thọ viết:
"người
Việt không kính trọng các kẻ hợp tác với Pháp và
nói tiếng Pháp v́ họ bị cô lập không nói
được tiếng ấy và cũng không được
giáo dục nữa."
Trước
kia, Lộc đă từng chủ trương dạy
chữ Quốc ngữ cho người Công giáo . Thọ nói
rằng v́ thiếu sách nên ông phải soạn ra. Lập
luận này bị ông Diệp Văn Cương không tán thành
bằng cách nói rằng không có lư do ǵ mà không dạy Nho giáo
bằng Pháp văn, trong khi tiếng Pháp chính là công cụ
để khai hoá. C̣n Hội Đồng Lê Văn Phát th́ cho
rằng cần duy tŕ tiếng Pháp để người
Pháp hiểu sinh hoạt, lịch sử Nam Kỳ mà họ
đang cai trị. Trong khi đó, Giám Mục Mossand phàn nàn
nhờ hấp thụ văn hoá Pháp do nhu cầu cai trị,
mà một số người tỏ ra ít trung thành với
Pháp. Ông Diệp Văn Cương, du học Pháp, đổ
Tú Tài 2, về làm Hội Đồng đă phản đối:
"Lời
tuyên bố xuất phát từ một vị đứng
đầu Giáo Hội Truyền Giáo Nam Kỳ như một
sự tố cáo tất cả người Việt du
học bên Pháp đều chống lại Pháp, trong đó có
tôi chẳng hạn. Điều đó không đúng."
Dư
luận Nam Kỳ cho rằng Trần Bá Thọ giống cha,
lúc làm Hội Đồng dám ăn nói, tỏ ra cứng
đầu, không nể nang ai hết. Về sau Thọ quy
dân lập ấp, xây chợ, cất nhà ở Sa Đéc, lúc
ấy thuộc phủ Tân Thành, nơi Lộc từng
trấn nhậm và có rất nhiều đất đai. Dân
chúng Sa Đéc c̣n nhắc đến Trần Bá Thọ
bằng hai câu liễn đối:
Tân
thị Mỹ Thành, chánh bổ Lục na sáng tạo
Quy dân
lạc lợi, Hùng đường, Trần Bá Thọ kinh
dinh
Về
sau, không biết buồn việc gia đ́nh ra sao, Thọ
dùng súng lục tự tử.
Trần
Bá Lộc c̣n hai người em trai khác là Trần Bá
Tường và Trần Bá Hựu. Cả hai đều ra
cộng tác với Pháp rất sớm, v́ nhờ lập
được nhiều thành tích đàn áp, bắn giết
các nghĩa quân, nên được Pháp rất tin cậy.
Trần Bá Hựu làm chủ quận Long Thành, c̣n Trần Bá
Tường ngồi quận tại Long Xuyên. Năm 1875,
Trần Bá Tường tham gia vào cuộc càn quét nghĩa quân
trong cuộc khởi nghĩa Làng Linh do Phó Quản Cơ
Trần Văn Thành lănh đạo. Pháp nhiều lần
dụ hàng, đem quan chức ra làm mồi câu nhử, mua
chuộc nhưng Trần Văn Thành khẳng khái:
Thà
thua xuống láng, xuống bưng
Bỏ
ra đầu giặc, lỗi chủng quân thần
Trong
trận nầy, Trần Bá Tường có người
dọ thám trước, rồi tự ḿnh dẫn một
cánh quân, phối hợp với quân của Quản Hiếm
(một người Việt theo Pháp) đánh úp đồn
Bảy Thưa là bản doanh của lănh tụ Trần
Văn Thành. Khu vực này được tổ chức
pḥng thủ kiên cố, và tinh thần chiến đấu của
binh sĩ rất cao. Từ đó về sau người ta
không c̣n nghe nhắc tới Trần Bá Tường nữa.
Có
một giai thoại về Trần Bá Thọ như sau:
"Tại
Gia Định có một sĩ phu tên Nguyễn Văn
Thạnh quê quán ở Định Tường, đậu
khoá thi Hương (cử nhân) làm quan tại B́nh Thuận.
Ông Thạnh là một nhà Nho có khí tiết. Khi Pháp chiếm ba
tỉnh miền Đông Nam Kỳ , Cử Thạnh từ
quan trở về t́m cách liên lạc với nghĩa quân
để tham gia. Ghe bầu của ông vừa vào cửa
Cần Giờ th́ bị quân Pháp khám xét. Sau khi lục soát,
chúng t́m được nhiều mă tấu, gươm giáo
giấu dưới khoang hầm. Âm mưu bại lộ ,
Cử Thạnh bị bắt giải về Sài G̣n . Nghe tin,
Tôn Thọ Tường tới xin bảo lănh, mời về
nhà đăi tiệc để dụ dỗ. Thạnh
khẳng khái từ chối. Tường không dám ép mà
chỉ nói:
- Nhân
các hữu kỳ chí (Ai có chí hướng của
người nấy)
Mấy
tháng sau, Cử Thạnh về quê sống ẩn dật. Lúc
nầy Trần Bá Lộc đă ngồi chủ quận Cái
Bè, nghe danh Cử Thạnh nên mời ông ta về nhà làm gia
khách dạy con là Trần Bá Thọ. Cha nào con nấy,
Trần Bá Thọ tuy c̣n là học tṛ, nhưng cũng
bộc lộ nhiều cử chỉ ngang ngạnh. Một
hôm thấy thầy đồ Nguyễn Văn Thạnh
rậm râu, hay hút thuốc, Trần Bá Tọ liền tới
gần và nói:
-
Thưa thầy, thầy có thể cho phép con ra một câu
đối?
-
Được, tṛ cứ làm trước .- Cử Thạnh
trả lời.
Trần
Bá Thọ liền đọc:
"Râu
ba cḥm lém dém, miệng hút thuốc ph́ phèo".
Nh́n
lại thấy Thọ tuy c̣n nhỏ tuổi, nhưng
đầu hói, tóc thưa, đi đâu cũng cầm ba-ton
ra vẻ hống hách, nên Cử Thạnh ứng khẩu
đối ngay:
"Tóc
vài sợi le the, tay cầm gậy ngúc ngắc."
Chưa
thoả măn, Thọ xin thầy đối một câu nữa
của hắn:
"Phụ
từ, tử hiếu, sanh con thế ấy là vàng"
Bực
ḿnh, thấy đứa học tṛ ngạo mạn, Cử
Thạnh liền đáp:
"Tham
phú, phụ bần, đụ mẹ thằng nào ở
bạc!"
Xấu
hổ, từ đó Trần Bá Thọ không c̣n xấc láo
với thầy học nữa.
TỔNG ĐỐC ĐỖ HỮU
PHƯƠNG
(1838-1914)
Đại
lộ sang trọng và sầm uất nhất Chợ Lớn
được đặt tên là "Đại Lộ
Tổng Đốc Phương", có phải ông nầy
là một người có công trạng đối với
đất nước? Tên ấy được
đặt ra dưới thời Pháp thuộc, v́
nước Pháp coi ông ta như một người có công đóng
góp lớn lao vào lịch sử nước Pháp. Đỗ
Hữu Phương là một nhơn vật tiếng
tăm lừng lẫy ở Nam Kỳ khi người Pháp
mới chiếm miền Nam. Tuy ông Lê Phát Đạt, tức
ông Huyện Sĩ nổi tiếng giàu nhứt, theo sự
sắp hạng của dân chúng Nam Kỳ, nhưng tiếng
tăm của ông ít ai biết bằng Đỗ Hữu
Phương. Tôi cũng nghe tên, "Rạch Ông Lớn",
"cầu Rạch Ông", "chợ Rạch Ông" là
những địa danh nằm ở bên kia cầu chữ Y
cũng nhắc nhở đến Đỗ Hữu
Phương, v́ đất đai đó trước kia là
của ông ta.
Thân
phụ Đỗ Hữu Phương không phải là quan
lại, nhưng là người giàu nhất Chợ Lớn,
gọi là bá hộ, c̣n bà mẹ ḍng dơi con quan. Sinh năm 1838
tại Chợ Đủi, Đỗ Hữu Phương
sống và lớn lên chứng kiến sự kế tục
của 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự
Đức với hoàn cảnh xă hội bất ổn
triền miên. Khi Pháp đánh Gia Định, Phương
đă đến tuổi trưởng thành, và cũng
trốn lên Bà Điểm, Hóc Môn. Giống như
trường hợp Trần Tử Ca, Đỗ Hữu
Phương theo Pháp ngay khi đồn Chí Ḥa thất
thủ. Qua trung gian của người Việt có
đạo, Đỗ Hữu Phương được
tiến dẫn đến tŕnh diện với Francis Garnier,
lúc ấy đang là Tham Biện Chợ Lớn, rồi
Phương theo Pháp luôn.
Theo tài
liệu dẫn ở trên:"Đỗ Hữu
Phương liên tục phục vụ trong nên hành chánh
thuộc địa cả văn lẫn vơ, và có đôi lúc
làm trung gian áp-phe trong các dịch vụ đấu thầu,
mua bán giữa Pháp và Hoa Kiều". Chi tiết về
cuộc đời của Đỗ Hữu Phương
phần lớn rút trong tập hồ sơ cá nhân của
Luro, có nơi Đỗ Hữu Phương làm Đốc
Phủ Sứ hàm Tổng Đốc. Khi Pháp chiếm luôn 6
tỉnh Nam Kỳ, Phương từ chức bá hộ, lên
làm Hộ trưởng ở Chợ Lớn. Lúc đó
cả Sài G̣n, Chợ Lớn chia ra làm 20 hộ. Địa
vị bá hộ lúc trước và chức hộ
trưởng đương thời đă khiến
Phương làm giàu rất nhanh. Phương là một trong
những người cộng tác với tân triều không
thuộc gia đ́nh quan lại, chỉ thuộc hạng
điền chủ giàu có mà thôi. Có thể nói cùng lănh
chức đội trưởng mă-tà một lượt,
Đỗ Hữu Phương và Trần Bá Lộc cùng
chạy đua để lập công với chủ mới.
Năm
1861, Phương vẫn c̣n ngoại đạo. Lư do
khiến Phương đứng về hàng ngũ Pháp, theo
Vial, Giám Đốc Nội Vụ là sự giàu có cần
được Pháp che chở. Theo luật phong kiến
của Việt Nam, tất cả tài sản và đất
đai đều thuộc quyền tối thượng
của Vua, nên Phương cũng như Ca, ra hợp tác
với Pháp là để bảo vệ quyền lợi
của ḿnh. Đỗ Hữu Phương rất khôn ngoan,
khi mới đầu quân với Pháp cũng tham gia vài
trận đánh để tạo niềm tin. Phương đă
dẹp cuộc khởi nghĩa do con Trương Công
Định lănh đạo ở Hóc Môn. Chỉ trong ṿng 9
năm, Phương lên chức Đốc Phủ Sứ
nhờ có công phủ dụ các cuộc khởi nghĩa,
hoặc dẫn binh đi đánh dẹp các nơi như
Vũng Liêm, Rạch Giá. Hai biến cố khiến
Phương củng cố thêm ḷng tin cậy của Pháp là
cải đạo Thiên Chúa và gia nhập Pháp tịch
trước tiên ở Nam Kỳ (năm 1881). Nhiệm
vụ quan trọng của Đỗ Hữu Phương là
dọ thám, cấp báo tin tức những cuộc dự
mưu khởi nghĩa, những nơi nào sắp gây náo
loạn trong phạm vi Chợ Lớn, Cần Giuộc, Tân
An.
So
với Trần Bá Lộc, Phương c̣n lương tâm
đối với đồng bào. Có lẫn Đỗ
Hữu Phương bảo lănh cho Thủ Khoa Huân, đem
về nhà nuôi ăn ở dưới h́nh thức quản
thúc. Trên nấc thang hoạn lộ, Phương tiến
rất mau. Từ chức Hộ trưởng ban
đầu, kế thăng Đốc Phủ Sứ, hàm
Tổng Đốc, và năm 1872, qua sự đề
nghị của Tham Biện Chợ Lớn, Thống
Đốc Le Myre de Villers bổ nhiệm Phương làm
hội viên Hội đồng Thành phố Chợ Lớn.
Đến năm 1897, Phương là phụ tá cho xă Tây
(một chức vụ như thị trưởng). Bấy
giờ Hoa Kiều bắt đầu buôn bán, giao dịch
nhiều với người Pháp, thấy Phương có
thế lực, quen biết với những người
giữ chức vụ then chốt, nên nhiều người
nhờ cậy Phương chạy chọt việc nầy
việc kia với số tiền đền ơn hậu
hĩ. Phương đóng thêm vại tṛ áp-phe.
Bấy
giờ có một lănh tụ Phật Giáo Tứ Ấn là ông
Năm Thiếp xuất hiện trong dân chúng miền Nam, làm
cho Pháp phải điên đầu. Theo lời kể của
một vị cao niên th́ có một ngôi chùa Phật Giáo Tứ
Ấn ở núi Tượng (có lẽ là chùa An Định?)
là trung tâm xuất phát các cuộc mưu toan khởi
nghĩa, tấn công đồn bót, để "phục
hưng cho dân An Nam". Trong nỗ lực t́m cách phủ
dụ hoặc bắt bớ lănh tụ Năm Thiếp,
Phương và Lộc đều ráo riết lập công.
Trong
những năm 1865-75, ông Năm Thiếp xuất hiện
nay chỗ nầy, mai chỗ kia, nhờ dân chúng che giấu
lúc ẩn, lúc hiện làm cho Pháp phải bối rối mà
không sao bắt được. Phương nghĩ ra
một cách mềm dẻo bằng cách sai một tay chơn
thân tính tên Bửu, người Minh Hương mua 3000 xâu
chuổi bồ đề ở Chợ Lớn, giả làm
một tín đồ sùng đạo, len lỏi vào tận
núi Tượng ở Châu Đốc xin cúng để phát cho
đồng bào. Sẵn dịp nầy Bửu ḍ la tin
tức ông Năm Thiếp nhưng không có kết quả.
Trường hợp Phủ Lộc làm một tṛ khôi hài
hơn. Lộc sai bộ hạ là ông Hai Phép đi ḍ la tin
tức ông Năm Thiếp ở Thất Sơn. Hai Phép
gặp ông Năm Thiếp bị ông cảm hóa, trở thành
tín đồ ngoan ngoăn, ở luôn, không về. Như vậy
cả hai người thi nhau lập công đều thất
bại.
Đỗ
Hữu Phương là người duy nhứt qua lại
thăm viếng Pháp nhiều lần. Lần đầu tiên
năm 1874, Phương qua Pháp dự hội chợ Paris. Ba
lần đầu vào các năm 1884, 1889 và 1894 đi du
lịch thăm con cái đang du học tại đó.
Đỗ Hữu Phương đă "Pháp hóa hơn
cả những người Pháp", theo lời nhận xét
của bạn bè người Pháp của ông. Ông có tất
cả 6 người con. Trưởng Nam là Đỗ
Hữu Chẩn theo học trường Vơ bị danh
tiếng St-Cyr của Pháp sau làm Trung Tá trong quân đội
Pháp. Ông là người Việt Nam đầu tiên và trẻ
tuổi nhứt làm trung tá trong quân đội Pháp.
Đỗ Hữu Chẩn mất vào Đệ Nhị Thế
Chiến. Người con kế là Đỗ Hữu Vị,
người phi công đầu tiên Việt Nam và cả
Đông Nam Á. Ngay từ lúc thiếu thời, Đỗ
Hữu Vị đă hấp thụ một nền văn hóa
Pháp hoàn toàn. Tốt nghiệp trường Taberd,
được thân phụ gởi qua Pháp du học tại
trường Collège St.Barbe ở Paris. Đỗ Hữu
Vị nói và viết Pháp văn như Pháp. Rồi Đỗ
Hữu Vị chọn binh nghiệp như anh. Ba năm sau
khi ra trường, Đỗ Hữu Vị mới xin theo
học Không Quân. Lúc đó người Việt Nam làm sĩ
quan cho Pháp rất hiếm. Chỉ có hai anh em Đỗ
Hữu Chẩn, Đỗ Hữu Vị và Nguyễn Văn
Xuân sau lên Trung Tướng. Nên nhớ lúc bấy giờ máy
bay mới được phát minh, cho nên làm phi công là một
việc rất phi thường. Đỗ Hữu Vị
lại làm phi công tác chiến trong phi đoàn ở Maroc.
Để
cổ vơ tấm gương người dân thuộc
địa phục vụ cho mẫu quốc, Pháp gởi
Đỗ Hữu Vị về Việt Nam lái máy bay biểu
diễn ở Sài G̣n và Hà Nội, dân chúng khâm phục, hănh
diện và bàn tán sôi nổi.
Thế
Chiến Thứ Nhứt bùng nổ (1914-1918), Đỗ
Hữu Vị trở qua Pháp tham dự các trận đánh
với Đức. Trong một lần giao tranh tại sông
Somme, Trung Úy Đỗ Hữu Vị bị thương
nặng và từ trần sau đó. Ông được
tưởng thưởng nhiều huy chương và truy
thăng Đại Úy.
Pháp cho
in h́nh Đỗ Hữu Vị trên con tem phát hành khắp
Đông Dương, và lấy tên ông đặt cho
trường Kỷ Thuật Cao Thắng sau nầy.
Đỗ
Hữu Phương c̣n một người con trai nữa là
Đỗ Hữu Trí, cũng có chức vụ trong nền
hành chánh thuộc địa nhưng không rơ. Trong 3
người con gái, có một người gả cho con trai
Tổng Đốc Hoàng Cao Khải ngoài Bắc.
Hai
thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, theo sự
nhận xét của người Pháp:"Nam Kỳ ổn
định về mọi mặt như mặt nước
hồ thu. Sự giao thiệp giữa các viên chức ra
hợp tác với tân triều và quan lại người
Pháp, có thể nói là thân mật, mở ra một thời
kỳ huy hoàng ở Nam Kỳ". Trần Bá Lộc,
Đỗ Hữu Phương, Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ)
nổi bật hơn những người Việt Nam khác
đă ra cộng tác với Pháp, được Pháp tin
cậy hoàn toàn và có một đời sống văn hóa
nửa Tây nửa ta. Phương tận tụy với
chủ mới và coi đó là một bổn phận
để giữ lấy địa vị giàu sang cùng ḷng
tin cậy mà thăng quan tiến chức. Trong vấn
đề cai trị, Phương luôn luôn chú trọng
đến trị an của Sài G̣n, Chợ Lớn.
Năm
1895, trong một báo cáo về t́nh h́nh an ninh Sài G̣n như
sau:"Khắp Sài G̣n, du đảng càng ngày càng lộng
hành. Chúng liên kết với nhóm Thiên Địa Hội
để ăn hiếp dân chúng, làm tiền những người
giàu có. Ai giận ghét người nào cho tiền,
mướn chúng đánh phá. Những ai muốn ứng
cử hội đồng mướn du côn canh chừng,
nếu không bỏ thăm cho ḿnh bị chúng chận
đánh. Thậm chí chúng c̣n giả bộ mượn
tiền nhà giàu từ năm ba chục trở lên, ai không cho
mượn, chúng đốt nhà trả thù". Thế
kỷ trước cũng không khác thế kỷ nầy bao
nhiêu. Đối với con gái trong nhà, Đỗ Hữu
Phương giáo dục theo truyền thống Nho giáo. Ông
được tưởng thưởng Bắc
Đẩu Bội Tinh nhiều lần vào những năm
1874, 1884, 1889.
Năm
1899, Phương về hưu và dùng thời gian c̣n lại
làm công tác từ thiện. Ông sáng lập trường
Nữ trung học Sài G̣n. Sau khi hưu trí, Toàn Quyền Paul
Doumer cất nhắc Phương vào "Hội
Đồng Tư Vấn Tối Cao Đông Dương"
cùng với Trần Bá Lộc. Trước khi về hưu,
Phương c̣n làm Phó chủ tịch "Hội Nghiên
Cứu Đông Dương" (1883). Đây là nôi tập
họp những người Pháp quan tâm đến Nam
Kỳ, cùng với những người Việt Nam giàu có,
giữ địa vị quan trọng trong chánh quyền
thuộc địa hoặc là trí thức.
Đến
năm 1908, hội nầy có tất cả 260 hội viên,
trong đó có 33 người Việt Nam, gồm những ông
Hội Đồng Quản Hạt, nhơn viên hành chánh cao cấp,
trong đó có Trần Bá Thọ. Riêng hai ông Pétrus Trương
Vĩnh Kư và Paulus Hùynh Tịnh Của là hội viên vĩnh
viễn suốt đời. Một hội viên xuất
sắc của hội nầy sau Pétrus Kư và Paulus Của là
ông Lê Văn Phát. Chúng tôi được biết thêm tiểu
sử một vị trí thức mới như sau:"Lê
Văn Phát thuộc ḍng dơi quư tộc, ra làm quan và hợp tác
với Pháp rất sớm ở Nam Kỳ. Tài liệu không
nói rơ ông quê quán ở đâu nhưng cho biết ông nội
làm quan ở triều đ́nh Huế lúc Pháp mới xâm
lăng Nam Kỳ. Nhưng cha mẹ ông không ngăn cấm
ông ra hợp tác với người Pháp. Ông sống
đồng thời với Trương Minh Kư, Trương
Vĩnh Kư, Hùynh Tịnh Của, có sức học uyên thâm,
nhưng rất tiếc không thấy c̣n để lại
tác phẩm nào.
Ông là
cây viết thường trực cho "Hội Nghiên
Cứu Đông Dương"(Bulletin de la Société des Études
Indochinoises). Mục đích của ông là làm cho nhà cầm
quyền Pháp hiểu thêm về người Việt Nam
hơn. Ông cũng là hội viên của "Hiệp Hội
Đồng Minh Pháp" (Pháp Văn Đồng Minh Hội
sau nầy). Theo ông, người Pháp đến làm chủ
Nam Kỳ mà biết rất ít về xứ sở họ
đang cai trị và sinh sống. C̣n một số phụ
nữ bản xứ có kiến thức văn hóa Pháp
nhờ tiếp xúc với nền học vấn Pháp qua các
trường Couvent, phần lớn là Công Giáo.
Cùng vào
năm 1908, có một hội viên mới là ông Bùi Quang Chiêu,
về sau làm lănh tụ đảng Lập Hiến. Ông
nội và cha của ông Bùi Quang Chiêu làm quan cho triều
đ́nh Huế, chống lại Pháp. Chiêu được du
học Algérie, và sau đó qua Pháp tiếp tục, đổ
kỹ sư năm 1897.
Những
năm cuối đời của Đỗ Hữu
Phương, Nam Kỳ rất ổn định. Miền
nầy nhiều nhà giàu lớn, có thói quen ăn xài theo Pháp, khác
với Trung và Bắc Kỳ. Nhà hàng Continental là nơi
gặp gỡ của các bạn bè Pháp Việt thượng
lưu trí thức. Theo Pháp đó là chứng cớ rơ ràng
về sự ḥa hợp Pháp-Việt để pha trộn
bản sắc giữa hai dân tộc. Riêng Đỗ Hữu
Phương đă "Pháp hóa hơn cả người
Pháp". Ông có thói quen ngồi nhà hàng Continental tán gẫu
với bạn bè Pháp và rất hiếu khách. Mỗi lần
khách tới nhà chơi đều được
Phương đăi rượu sâm-banh, ăn bánh Petit Beurre
và uống cà phê "De La Paix".
Cụ
Nguyễn Văn Vực có nhắc lại hồi đó có
một bài ca dao rất phổ thông nói về Đỗ
Hữu Phương hay đến nhà hàng Continental,
được cụ Trương Minh Kư dịch ra Pháp
văn, đại khái như sau:
"Các
quan lại Pháp thường hay đến tửu quán
"Cà phê De La Paix"
...để
gặp quan Tổng Đốc Đỗ Hữu
Phương và quan Bonnet đang ngồi tán dóc ở đó
Bạn
sẽ gặp ngài Paul Blanchy (Chủ tịch Hội
Đồng Quản Hạt), cùng với ngài Morin ở
đó nữa..."
Bài này
rất phổ thông hồi đầu thế kỷ 20
ở Sài G̣n , nay đă biến mất không c̣n dấu
vết. Dịch giả cùng vài bạn Pháp cũng có
đến đó chơi với Đỗ Hữu Phương.
Những người Pháp-Việt hội nhập ở
đó, đă nhớ lại vẻ ấm cúng và thú vị
của thuộc địa Nam Kỳ, so với bầu
trời Paris luôn luôn ảm đạm lạnh lẽo.
Một nhận xét khác về Đỗ Hữu Phương
trong quyển "En Indochine 1894-95" của P.
Barthelémy có nói đến một cuộc thăm viếng
Đỗ Hữu Phương tại tư gia, đă ca
tụng sự hiếu khách của ông ta như sau:
"Khi
viếng Chợ Lớn, đừng quên ghé thăm một
ông Phủ giàu có danh tiếng của thành phố này. Quan
Phủ bắt chước lối sống cực kỳ xa
hoa của chúng ta. Ông là dân An-Nam, tuổi độ 50,
tướng phốp pháp, có râu ngạnh trê, luôn luôn tự
phụ. Ông không do dự trong việc cho con qua Pháp du
học. Nhà ông nửa Tây, nửa ta."
Căn
nhà ngói 5 gian rộng lớn của ông ở ngay vị trí
khách sạn Thủ Đô, Chợ Lớn lúc trước
nằm trên đại lộ mang tên ông. Toàn Quyền Paul
Doumer mỗi lần vào Nam đều ghé nhà ông ăn
nhậu. "người ông giống hệt nhà ông, bên ngoài
trang trí theo lối Pháp, nhưng bên trong trang trí giữ phong
tục bản xứ" . (Lời nhận xét của Paul
Doumer)
Cũng
trong những lần ấy, không biết Đỗ Hữu
Phưong khéo léo thế nào mà xin được Toàn Quyền
Paul Doumer cấp không cho 2223 mẫu ruộng ở làng
Hoả Lựu (Chương Thiện)
Những
người xu nịnh cho rằng Đỗ Hữu
Phương là người giàu có danh giá gồm đủ
"Phú, Quư, Thọ, Khang, Ninh":
-
Về Phú: ông giàu tột bực, chỉ thua ông
Huyện Sĩ, đất ruộng hàng mấy chục ngàn
mẫu.
-
Về Quư: làm quan đến tột đỉnh,
tứ trụ triều đ́nh của chánh quyền Pháp
ở Nam Kỳ, được ân thưởng Bắc
Đẩu Bội Tinh đến 3 lần.
-
Về Thọ: ông mất ở tuổi 76
-
Về Khang: ông có nhiều con cháu nối nghiệp làm
quan lớn. Con trưởng làm Trung Tá đầu tiên trong
quân đội Pháp, con kế làm phi công đầu tiên
của Việt Nam , và một người con gái gả cho
Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu.
Sui gia
với ông là Hoàng Cao Khải, dưới con mắt của
Pháp và tay sai là người danh giá nhứt Bắc Kỳ. Gia
đ́nh ông có 3 người đều làm Tổng Đốc,
ngoài hai người vừa kể, c̣n một người
con nữa là Hoàng Mạnh Trí. Không biết ông Tổng
Đốc Hoàng Trọng Phu có công ǵ lớn đối với
đất nước mà triều đ́nh phong làm Thái Tử
Thiếu Bảo, Hiệp Tá Đại Học Sĩ. Riêng Hoàng
Cao Khải được ban tước Quận Công,
nhưng dưới triều vua Duy Tân (1907-1916) nhờ
lập nhiều thành tích cho Pháp, nên thực dân đề
nghị với triều đ́nh phong cho ông làm Phó
Vương. Rủi cho ông bấy giờ, Thượng
Thư Cao Xuân Dục đang làm Phụ Chánh đại
thần, đă phê vào đề nghị như sau:"Trên
bầu trời không có hai mặt trời, th́ trong một
nước không thể nào có hai vua. Thần, Cao Xuân Dục
không thể kư được ". Tuy vậy, nhiều
người nịnh bợ thỉnh thoảng vẫn
gọi Hoàng Cao Khải là Phó Vương.
- Vê Ninh:
ông sống ung dung nhàn hạ, hưởng thụ mọi
tiện nghi và thú vui vật chất, không phải lo lắng
bất cứ việc ǵ.
Xin trích
dẫn một giai thoại khác của cụ Vương
Hồng Sển trong "Sài G̣n năm xưa" có viết:
"Tết
Nguyên Đán, nhà ấy (Đỗ Hữu Phương) có ra câu
đối trao giải thưởng. Câu đối ra
như vầy:
"Đất
Chợ Lớn có nhà họ Đỗ
"Đỗ
một nhà, ngũ phước tam đa".
không
biết quả thật chăng có người về sau
gởi đến câu đối lại như vầy:
"Cù
Lao Rồng có lũ thằng phung
"Phung
một lũ: Cửu trùng bát nhă"
nhưng
người ấy không dám nhận giải thưởng.
Khi
Đỗ Hữu Phưong mất , gia đ́nh tổ chức
đám tang rất trọng thể. Thi hài quàn nửa tháng
mới chôn. Hàng ngày có hàng trăm khách viếng. Tang gia cho
vật trâu, ḅ, heo liên miên cúng và đăi khách. Báo "Đông
Phương tạp chí" ra ngày 7 tháng năm 1914 có
đăng một đoạn tả cảnh đám ma
ấy như sau:
"Đúng
4 giờ chiều một khắc (15 phút) nghe lệnh quan
Vệ úy Thạch hô:
-
Bọt-tê-am! (Portez armes!)
Thoạt
thấy quan phó toàn quyền và quan nguyên soái Nam Kỳ đi
giá (cáng) tới, vào nơi linh sàng phủ ủy ít lời.
Kế học tṛ hô:
-
Triệt linh sàng!
Tức
th́ nhạc "fanfare" giọng bi ai trổi lên . Rồi
động quan ra linh xa, chặn trước linh xa có bày các
bàn phúng điếu treo trướng và tràng bông của thiên
hạ đi đến có trên vài trăm cái.."
(trích
lại trong "Việt Nam tạp chí" số ra mắt
tháng bảy 1989)
HUỲNH CÔNG TẤN
(1837-1874)
Trước
năm 1945, phía trước nhà lồng chợ G̣ Công có
một tấm bia đá lớn của Pháp dựng lên
để kỷ niệm một người Việt có công
tận tụy với nước Pháp :"À la mémoire de
Lănh Binh Huỳnh Công Tấn, Chevalier de Légion d'honneur, fidèle
serviteur de la France" (Tưởng nhớ Huỳnh Công
Tấn, Lănh Binh, Bắc Đẩu Bội Tinh, công bộc trung
thành với nước Pháp).
Ngày 9
tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp. Dân chúng G̣ Công
phẩn uất, kéo tới đập phá tấm bia ấy
để xoá tan dấu vết của thực dân.
Huỳnh
Công Tấn là người quê quán tại G̣ Công, sinh năm
1837 trong một gia đ́nh nông dân ít học. Năm 1859 thành
Gia Định thất thủ, Tấn mới 22 tuổi.
Theo bức ảnh minh hoạ trong quyển sách :"Sự
có mặt của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam
Bốt" nói trên th́ Tấn có một dáng dấp
rất khác biệt với Đỗ Hữu Phương
hồi trai trẻ. Nếu Phương có dáng dấp
một thư sinh th́ Tấn là con người cục
mịch, gương mặt thô, vuông, hằn lên nét đanh
ác. Tấn mặc bộ đồ đen . Lúc Gia
Định mới thất thủ, Tấn gia nhập hàng
ngũ nghĩa quân chống Pháp, dưới quyền
chủ tướng Trương Công Định. Ba năm
sau, pḥng tuyến Chí Hoà bị hạ, triều đ́nh
Huế kư Hàng Ước 1862 nhường 3 tỉnh Biên Hoà,
Gia Định, Định Tường cho Pháp. Mất
địa bàn kháng chiến, Trương Công Định
dẫn quân về G̣ Công, dựa vào địa thế
hiểm trở vùng Vàm Láng ("đám lá tối
trời") để tiếp tục kháng Pháp. Trong
một cuộc hành quân vùng G̣ Công, Tấn gạt binh sĩ,
rồi bỏ trốn qua Tân An. May mắn cho Tấn, ở
đây hắn gặp một người bạn cũ tên
Nguyễn Hữu Nguơn, đă đầu thú Pháp,
hướng dẫn Tấn về Sài G̣n tŕnh diện.
C̣n theo
lời kể của cụ Nguyễn Văn Vực cho
biết:"Tấn vốn đam mê đàn bà con gái, hay
chọc ghẹo, nên bị chủ tướng Định
cảnh cáo. Có lần Định tát tai Tấn về
việc nầy, nên Tấn sanh tâm thù oán. Từ đó
Tấn t́m dịp trốn đi ra hàng giặc". Một
tài liệu khác nữa nói rằng:"Trong lúc hai bên giao
chiến, Tấn bị Pháp bắt. Để đoái công
chuộc tội, Tấn xin cung khai đầy đủ
mọi việc quân thư của Trương Công
Định". Tài liệu nầy do Vial, Giám Đốc
Nội vụ ghi lại trong tập hồ sơ "Lănh
Binh Tấn ngày 31 tháng bảy 1869".
Để
được Pháp tin cậy, Tấn ra tay dọ thám,
chỉ điểm cho Pháp ruồng bố nghĩa quân.
Chỉ một năm sau, Tấn lập được
nhiều thành tích, Pháp cho Tấn làm đội
trưởng.
Quê
dốt, không tham vọng nhưng rất tàn ác, Tấn không
từ bỏ một dịp may nào để tiến thân và
làm giàu. Có quyền trong tay, Tấn bắt người t́nh
nghi, đánh đập để khảo của. Tấn
làm giàu bằng cách tổ chức ṣng bạc, chiếm
đất của các điền chủ bỏ chạy qua
miền Tây lánh nạn. Đồng thời, Tấn bắt
thường dân làm sưu cho ḿnh. Chỉ trong 10 năm,
Tấn trở thành một người giàu có nhứt G̣
Công. Bằng cách cướp đoạt, Tấn có hàng ngàn
mẫu ruộng. Tấn lập công với Pháp bằng cách
đem quân qua Cần Giuộc bao vây, bắt được
lănh tụ nghĩa quân Bùi Duy Nhứt. Với thành công
mới, Pháp phong cho Tấn chức Lănh Binh, là chức quan
đàng cựu, coi tất cả binh lính trong một
tỉnh.
Có
lẽ do ḷng căm thù cá nhơn, Tấn coi nghĩa quân c̣n
hơn kẻ thù, mặc t́nh bắt bớ, tra khảo,
bắn giết không nương tay. Tấn làm nô bộc cho
chủ Pháp rất hăng hái. Có lần Tấn dám chê bai Tham
Biện Pháp là người bất tài vô dụng:"Bởi
quan Tham Biện chúng tôi xưa nay là qua coi binh, chưa
từng biết việc dân (hành chánh) cho nên việc quan làm
th́ làm bậy, nói th́ chẳng thông lư sự, dường
như kẻ ngu si dốt nát".
Giám
Đốc Nội Vụ thấy Tấn lạm quyền
quá đáng, muốn t́m cách đổi Tấn đi miền
Đông, nhưng Tấn lại lập thêm nhiều công
trạng mới, nên được giữ lại.
Người
Pháp dùng Tấn như một tay sai đắc lực
chớ không ưa Tấn. Trong một chuyến từ G̣
Công về Sài G̣n bằng ghe bầu, Tấn bị bịnh
và chết trên ghe, lúc mới 37 tuổi. Tấn có hai người
con trai là Huỳnh Công Miêng và Huỳnh Công Viễn.
Để nuôi dưỡng tay sai trung thành, Pháp cho Huỳnh
Công Miêng qua pháp du học. Lúc về nước, Miêng theo
Trần Bá Lộc đánh dẹp nhiều nơi. Sau đó
Miêng chán nản, bỏ quan, trở thành một công tử
ăn chơi khét tiếng miền Nam. Dân chúng gọi
bằng "Cậu Hai Miêng". Cậu Hai sống theo
kiểu giang hồ hảo hán, lưu linh miễn tử
khắp Nam Kỳ. Mỗi lần hết tiền, Cậu
Hai vào thăm các tham biện, chủ quận để
hỏi tiền xài. Pháp nhớ công ơn cha cậu, nên
cũng nể mặt, cho cậu ít nhiều. Cậu
sống ngang tàng, không ai dám làm ǵ dù có phạm tội chút ít
(Xin xem thêm "Nam Kỳ Lục Tỉnh" tập I).
Cậu
Hai mất năm 1895, chôn ở Sài G̣n. Cuộc đời
Cậu Hai Miêng được dân chúng thán phục,
truyền tụng sâu rộng bằng nhiều tập
thơ "Cậu Hai Miêng".
Trong
quyển "Quốc Âm Hiệp Tuyển" của Lê Quang
Chiếu (người Cần thơ) có bài thơ
điếu Cậu Hai Miêng như sau:
"Số
hệ ai làm hỡi cậu Miêng?
"Ba
mươi tám tuổi, dơi huỳnh tuyền,
"Sao
lờ Bến Nghé, xiêu người ngó,
"Khói
toả Cầu Kho, thảm vợ hiền'
"Đứng
bực phong lưu trời vội dứt,
"Những
trang hào kiệt đất không kiêng
"Nhựt
báo đ̣i nơi đă khắp truyền".